Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Bệnh thận ở trẻ

Các rối loạn thận không phải là không phổ biến ở trẻ em. Không giống như tim, phổi và bệnh gan, các rối loạn thận không gây ra các triệu chứng cho tới khi gần 80% chức năng thận bị suy giảm và do vậy, bệnh thường được chẩn đoán muộn. Điều quan trọng là phụ huynh cần nhận biết những dấu hiệu sớm của bệnh này ở trẻ để phòng tránh. Dưới đây là những điều cần biết về bệnh thận ở trẻ nhỏ:

Các triệu chứng

Tiểu đau

Nước tiểu có màu đỏ/nâu

Dòng nước tiểu yếu

Đi tiểu ít hơn 4 lần/ngày

Đi tiểu nhiều hơn 12 lần/ngày

Sưng phù quanh mắt

Rối loạn tăng trưởng hoặc khuyết tật về xương

Hay cảm thấy khát

Bệnh thận ở trẻ

Các loại bệnh thận

Dị tật đường tiểu, xuất hiện từ khi mới sinh

Sỏi thận

Viêm cầu thận

Hội chứng thận hư

Nhiễm trùng đường tiểu

Suy thận cấp

Bệnh thận mạn tính

Chẩn đoán

Để chẩn đoán và đánh giá độ nặng của bệnh thận, các bác sĩ cần:

Kiểm tra nước tiểu để có thông tin về sự xuất hiện protein, hồng cầu, bạch cầu và tinh thể.

Cấy nước tiểu nên thực hiện trong trường hợp nghi ngờ nhiễm trùng đường tiểu.

Ure và creatinine tăng khi thận không hoạt động thích hợp. Các xét nghiệm máu khác như electrolyte, hemoglobin, khí máu đôi khi được yêu cầu.

Siêu âm là một xét nghiệm hữu ích trong bệnh thận. Nó giúp cung cấp nhiều thông tin như kích thước thận, dị tật bẩm sinh (thận đơn/thận đa nang), thận ứ nước (sung thận), tắc đường niệu, sỏi thận, khối u ở thận.

Các xét nghiệm như chụp và sinh thiết thận hiếm khi được yêu cầu.

Điều trị

Điều trị bệnh thận phụ thuộc vào từng cá nhân.

Cần sử dụng thuốc kháng sinh trong 10-14 ngày. Prednisolon (steroid) được sử dụng trong hội chứng thận hư. Đôi khi một số dị tật đòi hỏi phải phẫu thuật chỉnh sửa.

Ở người lớn, khi thận suy, chạy thận được thực hiện và đôi khi ghép thận là lựa chọn du nhất. Việc điều trị cũng tương tự ở trẻ em. Chạy thận có 2 loại: thẩm phân phúc mạc (hay sử dụng ở trẻ em) và chạy thận nhân tạo. Do thận bị suy, những chất như u rê, creatinine, kali, phốt pho và nước bị tích lũy dư thừa trong cơ thể. Những chất này được loại bỏ bởi thẩm tách thận.

Trong một số trường hợp, bệnh nhân cần được ghép thận. Tuy nhiên, đây là thủ thuật rất phức tạp và tốn kém.

Phòng ngừa

Điều trị suy thận rất khó khăn, đau đớn và tốn kém. Do vậy phòng bệnh là rất quan trọng.

Nếu có các bất thường về thận kéo dài hơn 3 tháng, mức creatinine huyết cao hoặc thận bất thường trên siêu âm, trẻ cần được tới khám bác sĩ chuyên khoa.

BS Thu Vân

(Theo THS)

Bà bầu dành 10 phút tắm nắng mỗi ngày giúp giảm nguy cơ mắc hen ở trẻ

Các nhà khoa học của Đại học Kansax- Mỹ đã nghiên cứu mối liên quan giữa tỷ lệ trẻ mắc hen và lượng ánh nắng mặt trời ở vùng mà bà mẹ đang mang thai ở giai đoạn 3 tháng giữa của thai kỳ đang sống. Kết quả nghiên cứu đăng trong Tạp chí kinh tế sức khỏe Hoa Kỳ (American Journal of Health Economics) cho thấy nguy cơ mắc các bệnh hô hấp ở trẻ tăng khi có sự thiếu hụt vitamin D ở bà mẹ.

ba-bau-tam-nang-giam-nguy-co-mac-hen-o-tre

Khi bà bầu tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, lượng vitamin D tăng và trẻ sinh ra ít có những triệu chứng của hen. Theo tác giả nghiên cứu thì chỉ cần tắm nắng 10 phút mỗi ngày giúp làm giảm nguy cơ mắc hen ở trẻ sinh ra- Đây là tin vui cho các bà bầu!

Nhưng không nên nghĩ rằng ánh sáng mặt trời là vô hại, nhất là ở phụ nữ mang thai, đôi khi có những đốm nâu trên mặt và ngực. Cho nên hãy bảo vệ vùng da mặt và cổ với kem chống nắng, đội mũ và phơi nắng phần còn lại của cơ thể . Các bà bầu nên nhớ rằng chỉ 10 phút mỗi ngày là đủ để có lượng vitamin D cần thiết.

Tuy nhiên các bà bầu đừng lo lắng nhiều vì thường được bổ sung để tránh sự thiếu hụt này nhưng hãy nhớ rằng vitamin D tổng hợp ít hiệu quả hơn từ thiên nhiên.

Bs Ái Thủy

(theo Metronews.fr)

Xử lý các bất thường hay gặp ở vùng kín bé trai

Các dị dạng ở vùng bìu dễ nhận biết, tuy nhiên, đó là bệnh gì? Cách điều trị như thế nào? Có bắt buộc phải mổ không? Và quan trọng là khi nào thì phải mổ? Các phụ huynh có khá nhiều băn khoăn trước những bất thường ở vùng này.

Thoát vị bẹn - Nang thừng tinh - Tràn dịch màng tinh hoàn

Đây là các bất thường hay gặp nhất ở trẻ em có cùng biểu hiện là “bìu to” và hai bên không cân đối. Cả ba bệnh lý trên là biểu hiện khác nhau của cùng một tình trạng “còn ống phúc tinh mạc” do ống từ ổ bụng thông với bìu không được đóng lại hoàn toàn trong thời kỳ bào thai.

Biểu hiện của bệnh

Thoát vị bẹn: Bìu to lên, mất cân đối mỗi khi trẻ khóc hoặc chạy nhảy, thường là không đau, sau đó lại có thể tự xẹp đi khi nằm. Khi khám sờ thấy lỗ thoát vị rộng, có thể thấy quai ruột tụt xuống bìu.

Cần lưu ý rằng, thoát vị cũng gặp ở trẻ gái với biểu hiện là vùng môi lớn phình to lên, mất cân đối so với bên kia, thường xuất hiện khi gắng sức như khi trẻ khóc, chạy nhảy... sau đó tự xẹp đi khi nằm. Thường gặp là tình trạng buồng trứng và vòi trứng thoát vị xuống môi lớn. Nếu nghẹt, trẻ sẽ rất đau, cần mổ cấp cứu để tránh hoại tử.

Tràn dịch màng tinh hoàn: Bìu to thường xuyên, liên tục, mất cân đối ngay từ sau đẻ. Không đau. Sờ có dấu hiệu kẹp màng tinh hoàn. Siêu âm giúp xác định chẩn đoán.

Nang thừng tinh: Bìu to thường xuyên, liên tục, mất cân đối ngay từ sau đẻ, không đau, có thể sờ thấy “ba hòn”. Siêu âm giúp xác định chẩn đoán.Ẩn tinh hoàn là dị tật sinh dục bẩm sinh khá phổ biến ở trẻ em.

Ẩn tinh hoàn là dị tật sinh dục bẩm sinh khá phổ biến ở trẻ em.

Chỉ định điều trị

Thoát vị bẹn: Bắt buộc phải mổ để cắt và khâu lại bao thoát vị. Cần lên kế hoạch mổ sớm nhất có thể để tránh biến chứng nghẹt gây hoại tử ruột hoặc các tạng thoát vị.

Tràn dịch màng tinh hoàn và nang thừng tinh: Không bao giờ mổ trước 2 tuổi vì đây là khoảng thời gian mà ống phúc tinh mạc còn có khả năng tiếp tục kép lại. Nếu ống này đóng kín thì bệnh sẽ khỏi tự nhiên với tỷ lệ khoảng 65% các trường hợp. Sau 2 tuổi mà bìu vẫn to thì hoàn toàn mất cơ hội tự khỏi, khi đó cần mổ để khâu lại ống phúc tinh mạc và hút hết dịch trong nang hoặc trong màng tinh.

Tinh hoàn chưa xuống bìu

Bệnh biểu hiện với “bìu xẹp” lệch nếu ẩn tinh hoàn một bên hoặc xẹp hoàn toàn nếu ẩn tinh hoàn cả hai bên. Không sờ thấy tinh hoàn trong bìu. Cần khám khi trẻ thực sự thư giãn, các cơ thả lỏng. Dùng lòng bàn tay vuốt từ vùng mu xuống bìu có thể cảm thấy tinh hoàn nổi gờ lên. Nếu có lúc tinh hoàn sờ thấy ở bìu, có lúc lại di động lên vùng bẹn, trường hợp này gọi là “tinh hoàn lò xo”.

Ẩn tinh hoàn là bất thường bẩm sinh phổ biến ở hệ sinh dục của trẻ em. Trong vòng khoảng 6 tháng sau sinh, tinh hoàn vẫn có thể tiếp tục quá trình di chuyển và xuống đến đúng vị trí trong bìu. Tuy nhiên, khả năng một tinh hoàn tự di chuyển xuống bìu vào vị trí bình thường không nhiều. Nếu sau 6 tháng tuổi mà tinh hoàn chưa xuống bìu, trẻ cần phải được điều trị để tránh ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, dễ xảy ra biến chứng xoắn tinh hoàn, thậm chí ung thư tinh hoàn.

Xoắn tinh hoàn là một biến chứng thường xảy ra vào lứa tuổi dậy thì, ở những trẻ bị ẩn tinh hoàn chưa được mổ. Bệnh biểu hiện với đau dữ dội, đột ngột ở bìu. Vùng bìu bẹn sưng to, sờ rất đau, có thể chuyển màu tím đen. Đây là một cấp cứu tối khẩn cấp, nếu mổ muộn sau 6 giờ tính từ cơn đau đầu tiên thì khả năng phải cắt tinh hoàn bị hoại tử do xoắn là rất cao.

Phương pháp điều trị

Điều trị ngoại khoa: Với tất cả những trẻ đã quá 6 tháng tuổi mà không sờ thấy tinh hoàn ở bìu đều cần phải được khám và điều trị. Mổ hạ tinh hoàn là phương pháp điều trị cơ bản và hiệu quả nhất.

Điều trị nội khoa: Thuốc nội tiết có tác dụng giúp tinh hoàn di chuyển xuống bìu. Tuy nhiên, thuốc nội tiết có những tác dụng không mong muốn khó kiểm soát. Việc sử dụng thuốc nội tiết trong điều trị ẩn tinh hoàn phải được bác sĩ chuyên khoa xem xét theo từng trường hợp cụ thể và theo dõi sát.

BS. Lê Sĩ Trung

Cách phát hiện cúm ở trẻ nhỏ

Bệnh cảm cúm thông thường là một nhiễm trùng đường hô hấp trên gây ra bởi một trong hơn 100 loại virut. Các virut có thể gây ra cảm cúm ở trẻ bao gồm Enterovirus và Coxsackievirus. Khi trẻ đã bị nhiễm loại virut nào, bé sẽ có miễn dịch với virut đó. Nhưng vì có quá nhiều virut gây cảm cúm, nên bé vẫn bị mắc bệnh cảm cúm vài lần trong 1 năm và nhiều lần trong cuộc đời.

Vì sao trẻ nhỏ mắc cảm cúm?

Em bé có thể bị nhiễm virut trong các trường hợp: qua không khí, khi một người nào đó bị bệnh cảm cúm ho, hắt hơi hoặc nói làm bắn virut ra không khí và em bé hít phải; do lây trực tiếp: khi người bệnh chạm miệng, mũi của mình vào miệng hoặc mũi của em bé, hoặc chạm vào bàn tay của bé, sau đó bé dụi mắt hay đưa tay lên miệng mà nhiễm bệnh; một số virut có thể sống trên bề mặt đồ vật trên 2 giờ, em bé có thể nhiễm virut bằng cách chạm vào một bề mặt đồ vật bị ô nhiễm như gối, chăn, đồ chơi, quần áo...

Nhỏ nước muối sinh lý vào mũi để trẻ dễ ho, tống đờm và dịch tiết, giúp thông thoáng mũi họng.

Nhỏ nước muối sinh lý vào mũi để trẻ dễ ho, tống đờm và dịch tiết, giúp thông thoáng mũi họng.

Phát hiện cảm cúm ở trẻ nhỏ

Các dấu hiệu cảm cúm thông thường ở trẻ nhỏ là: mũi tắc nghẽn hoặc chảy nước mũi. Chảy nước mũi có thể rõ ràng lúc đầu, sau đó nước mũi thường trở nên đặc hơn và biến thành màu vàng hoặc màu xanh.

Vì vậy, các bà mẹ cần chú ý phát hiện và đưa con đi khám bệnh kịp thời nếu thấy các triệu chứng: trẻ sốt trên 38,9oC trong 1 ngày; dường như bé bị đau tai hay khóc và cọ bên tai đau xuống gối; mắt màu đỏ hoặc màu vàng, xuất hiện rỉ mắt; trẻ có ho kéo dài hơn một tuần; nước mũi đặc, vàng hoặc xanh trong hơn hai tuần; bé biếng ăn; ho, buồn nôn hoặc nôn; da thay đổi màu da. Trẻ có thể bị ho ra máu ít hoặc máu có lẫn trong đờm; bé khó thở hoặc là xanh tái ở niêm mạc môi và miệng.

Các biến chứng do cúm

Trẻ nhỏ bị cảm cúm nếu không được phát hiện và điều trị tích cực có thể dẫn đến một số biến chứng như sau:

Viêm tai giữa: khoảng 5-15% trẻ em cảm cúm sẽ dẫn đến một nhiễm khuẩn ở tai. Bệnh viêm tai giữa xảy ra khi vi khuẩn hoặc virut xâm nhập vào khoang tai phía sau màng nhĩ. Khi đó trẻ có biểu hiện thở khò khè; sốt; đau tai với dấu hiệu trẻ hay khóc, lắc đầu, cọ tai xuống gối; nặng hơn thấy chảy mủ tai...

Viêm xoang: nếu trẻ bị cảm cúm thông thường mà không được điều trị có thể dẫn đến viêm xoang. Đây là bệnh nhiễm khuẩn thứ cấp. Trẻ có dấu hiệu: đau trong xoang nên quấy khóc nhiều, có thể có sốt, kém ăn, khó ngủ...

Ngoài ra trẻ có thể bị viêm họng, viêm phổi, viêm phế quản và thanh quản. Các bệnh lý này phải do bác sĩ khám và chẩn đoán.

Chăm sóc và điều trị cho bé

Đến nay vẫn chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu bệnh cảm cúm. Việc điều trị chủ yếu là chữa triệu chứng và nâng cao thể trạng cho bé. Thuốc kháng sinh không có tác dụng chống lại virut cảm cúm. Cha mẹ hay người chăm sóc trẻ có thể giúp cải thiện triệu chứng cho bé như: hút đờm, nước mũi ra để làm thông thoáng đường hô hấp cho trẻ dễ thở. Nếu trẻ sơ sinh có cơn sốt 38oC hoặc cao hơn và có vẻ khó chịu, có thể cho trẻ uống thuốc hạ nhiệt acetaminophen với liều lượng thích hợp với độ tuổi theo chỉ định của bác sĩ. Thuốc ibuprofen có thể dùng với trẻ trên 6 tháng tuổi. Không bao giờ cho trẻ uống aspirin bởi vì nó có thể kích hoạt hội chứng Reye gây tử vong. Không cho trẻ sơ sinh uống các chế phẩm ho cảm, vì các chế phẩm này không giúp cải thiện bệnh mà còn có thể gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng.

Làm loãng đờm nhầy bằng cách nhỏ nước muối sinh lý vào mũi để trẻ dễ ho khạc đờm ra ngoài, giúp thông thoáng mũi họng. Hút mũi của bé bằng cách dùng miệng hút trực tiếp, hoặc dùng dụng cụ chuyên dụng để hút nước mũi cho bé mỗi khi bé hắt hơi hoặc chảy nhiều nước mũi. Làm ẩm không khí: dùng máy tạo độ ẩm trong phòng của bé có thể giúp cải thiện triệu chứng chảy nước mũi và nghẹt mũi. Cho bé xông nước ấm để tránh khô nẻ niêm mạc mũi, miệng.

Cần cho bé ăn uống đầy đủ, nhất là phải uống đủ nước để tăng đào thải virut ra khỏi cơ thể và để tránh mất nước. Nếu mẹ đang cho bú, cần cho trẻ bú đầy đủ như lúc trẻ còn khỏe. Bởi ngoài chất dinh dưỡng, sữa mẹ còn cung cấp thêm miễn dịch bảo vệ trẻ chống lại virut gây cảm cúm.

Phòng bệnh cho bé

Cảm cúm thường lây lan qua các giọt nước bọt nhỏ từ người bệnh khi họ ho hoặc hắt hơi vào không khí. Vì vậy cần tránh cho người bệnh tiếp xúc với trẻ hoặc không nên ở chung phòng với trẻ. Cần cho trẻ uống nhiều nước và rửa sạch tay bằng xà phòng và nước sạch cho trẻ. Tránh cho trẻ tiếp xúc với người bệnh. Người lớn cần rửa tay trước khi cho trẻ ăn hay chăm sóc cho em bé. Luôn làm sạch đồ chơi của bé và núm vú của bình bú sữa.

BS. Đinh Lan Anh

9 câu hỏi không thể bỏ qua về cúm gia cầm A/H7N9

Hiện nay, dịch cúm gia cầm H7N9 đang xảy ra ở Trung Quốc, rất gần với Việt Nam. Những giải đáp sau sẽ giúp bạn sáng tỏ về bệnh cúm A/H7N9 cũng như cách phòng ngừa.

1. Nguyên nhân của bệnh cúm và cúm gia cầm?

Do siêu vi trùng (Virus) cúm gây ra – Virus cúm gây bệnh trên người được chia 3 nhóm (A,B,C) trong đó nhóm A là phổ biến và một số trong nhóm này có thể phát thành dịch bệnh.

Virus cúm có cấu trúc hình khối cầu, trên bề mặt có nhiều thụ thể kháng nguyên, trong đó có 2 thụ thể kháng nguyên (glycoprotein) đáng chú ý là Haemaglutinin (H) và Neuraminidase/

Hiện có phân nhóm 16 H và 9 N, các tiểu nhóm này có thể thay đổi cấu trúc do vậy có những khó khăn nhất định trong việc tìm kiếm vaccine phòng và điều trị bệnh.

Một số loại cúm có liên quan đến gia cầm mà thường nghe thấy là:

H5N1 – Bird Flu (gà) 2004

H1N1 – Swine Flu (heo) 2009

H7N9 – Cúm gia cầm – từ 2013

2. Bệnh cúm gia cầm A/H7N9 có phải là loại vi rus (siêu vi trùng) mới?

Mặc dù nhóm vi rus cúm nhóm A, H7 (ví dụ H7N2, H7N3 và H7N7) thỉnh thoảng có gây nhiễm trên người, H7N9 trước đây chỉ thấy gây bệnh trên chim ở Hà lan, Nhật và Mỹ.

Nhưng bắt đầu từ 3/2013 tại Trung Quốc, trường hợp đầu tiên A/H7N9 gây bệnh trên người được báo cáo. Tính đên 16/1/2017: 918 mắc bệnh và 359 tử vong

Từ 2013-2015: Có 4 đợt dịch bệnh. Riêng cuối năm 10/2016- đầu năm 20/2/2017: đợt bùng phát thứ 5 của H7N9 với 424 người mắc bệnh

Tổng số từ đợt 1- đến 5: Thông tin gần đây nhất thì đã đó 1223 trường hợp xác định và khoảng 40% trường hợp tử vong (con số tăng lên)

Những điều cần biết về dịch cúm gia cầm A/H7N9

3. Biểu hiện của bệnh cúm gia cầm A/ H7N9

A. Trên gà, vịt, chim bồ câu … - Hầu như không có biểu hiện bệnh (ngoại trừ có những con vật bị chết không rõ nguyên ro và thử nghiệm tìm ra, còn nói chung đa số không có biểu hiện bệnh). Điểm này khác với cúm gà A/H5N1 – thì gia súc bị ảnh hưởng có thể từ nhẹ đến nặng rõ ràng.

B. trên người: Sốt, ho, khó thở, có thể viêm phổi, suy hô hấp cấp, nhiễm trùng máu và suy chức năng các bộ phận trong cơ thể.

5. Cách thức lan truyền của Cúm A/H7N9:

Người bị mắc bệnh thì hiếm (không dễ dàng). Thường là tiếp xúc gần với gia cầm bị bệnh (dù sống hay chết) hoặc tiếp xúc với môi trường bị ô nhiễm hay ghé thăm các chợ gia cầm sống.

Tạm thời coi như chưa có lan truyền Người qua Người: Tuy nhiên cũng phải nói có vài trường hợp được coi là có lan truyền người sang người. Còn nhìn chung, H7N9 ít có nguy cơ truyền bệnh từ người sang người. (mặc dù vậy, do đặc tính cấu trúc thay đổi, Y giới luôn cần cảnh giác và theo dõi chặc chẽ. Bởi vì nếu Virus lây từ người sang người thì sẽ tạo dịch và nguy hiểm đáng kể. So với H5N1 (cúm gà) trước đây, thì H7N9 được coi là có thể lan truyền Người-Người cao hơn; (nhắc lại hơn nữa là cúm H5N1 rõ ràng trên gia súc nên dễ phát hiện hơn)

6. Điều trị bệnh cúm A/H7N9

Điều trị hỗ trợ: giảm sốt, bù đủ nước điện giải, nghỉ ngơi. Ăn uống đầy đủ

Điều trị thuốc: Oseltamivir (Tamiflu), Zanamivir (Relenza), truyền tĩnh mạch Peramivir (Rapivab)– H7N9 giống như các cúm gà khác (avian flu), không đáp ứng với nhóm thuốc kháng siêu vi trùng nhóm Adamantane.

Tuy nhiên gần đây cũng có lo ngại là kháng thuốc của A/H7N9 với Oseltamivir hay Zanamivir.

Chú ý thống kê: cần uống sớm, và đúng đối tượng (Còn lại hiệu quả giữa lợi ích và tác hại của thuốc là không đáng kể nếu người bệnh không có những bệnh lý yếu miễn dịch, hay bệnh lý đặc biệt gây kém khả năng đề kháng).

7. Phòng bệnh cúm A/H7N91

- Rửa tay: Rửa tay liên quan chuẩn bị thức ăn; chế biến hay dọn dẹp chất thải động vật. Rửa tay khi chăm sóc người bệnh.

- Vệ sinh hô hấp cũng là điều cần chú ý. Bịt miệng khi ho, bằng tay hay khăn giấy. Rửa tay, vứt khăn giấy đã qua sử dụng vào thùng rác đậy kín

- Vệ sinh ăn uống: A/H7N9 không lây truyền qua thực phẩm được nấu chín vì virus cúm sẽ bị tiêu diệt trên 70 độ C, do đó có thể ăn thịt lợn hay thịt gia cầm đã được nấu chín hoàn toàn.

Không nên ăn thịt tái, tiết canh.

Tránh ăn thịt con vật bị bệnh hoặc đã chết vì bệnh.

Cẩn trọng với nguồn gia cầm không rõ nguồn gốc xuất xứ (như đã nói, gà vịt bị bệnh có thể không có biểu hiện nhưng vẫn có thể lây bệnh cho người. VN thì càng cẩn thận vì buôn lậu biên giới, thiếu kiểm soát, thiếu trung thực khai báo…)

- Chưa có vaccine dùng cho công chúng, nhưng đang có vài vaccine trong giai đoạn kiểm nghiệm. Mục đích chính là dự phòng nếu có dịch bùng phát trên người đủ mức sẽ có thể tiến hành tiêm phòng đại trà.

8. Ăn trứng của gà vịt bị bệnh có bị không?

Lời khuyên y tế: Trứng không mang mầm bệnh, tuy nhiên nên ăn trứng nấu chín kỹ, (không đánh kem sống hay ăn lòng đào)

9. Tiêm phòng cúm mùa đông hàng năm có phòng bệnh A/H7N9 không?

Trả lời không, vì thường tiêm cúm mùa đông từ 3-5 chủng, không có phòng cho chủng này.

Vậy tiêm cúng mùa đông phòng cho Cúm Swine flu (cúm heo không)?

Thông thường là có, vì các năm gần đây, thuốc chủng ngừa cúm thường có bao gồm đề kháng cho Swine flu.

Một vài câu hỏi thường gặp khác

Có nên hạn chế đi du lịch vì cúm H7N9 không?

Không, nói rộng ra là cả du lịch Trung Quốc cũng chưa bị khuyến cáo, mà chỉ là tránh vào các chợ gia súc sống hay tiếp xúc trực tiếp với các con gà vịt (nếu chẳng may chúng bị bệnh), đảm bảo vệ sinh an toàn (theo nguyên tắc phòng bệnh ở trên).

Nếu nói bệnh nhân có tỉ lệ tử vong là khoảng 40% là rất cao, vậy bệnh có đáng ngại không?

Mặc dù tỉ lệ tử vong cao, nhưng số người mắc và nguyên tắc lây truyền vẫn chưa bị coi là dịch. Và nhất là nguy cơ lây truyền Người-Người chỉ có một vài trường hợp trong hoàn cảnh rất đặc biệt (như chăm sóc gần gũi với người bệnh) mà thôi. Nhìn chung cộng đồng chú ý tin tức chứ chưa cần phải báo động khẩn.

Bs Phan Đình Hiệp

(Melbourne Australia)

Nổi mề đay mẩn ngứa

Những hiện tượng ban đầu chính là có những vùng da sẩn đỏ, ngứa và khó chịu. Mề đay là một phản ứng viêm của da, có cơ chế phức tạp, trong đó có sự can thiệp của chất trung gian hóa học chính là histamin. Tuy là một bệnh da phổ biến, rất dễ nhận biết nhưng lại khó phát hiện nguyên nhân dù đã làm đầy đủ các xét nghiệm. Có nhiều yếu tố gây bệnh (bên trong, bên ngoài cơ thể, cơ địa) và trên một bệnh nhân, nhiều khi không chỉ có một mà gồm nhiều yếu tố cùng kết hợp.

Diễn biến bệnh

Cấp tính: xảy ra đột ngột và biến mất nhanh sau vài giờ hoặc vài ngày, hay gặp ở người trẻ và nguyên nhân thường gặp là do thức ăn hoặc thuốc.

Mề đay mãn tính: kéo dài trên 6 tuần, đa số là tự phát (vô căn), trường hợp này phải dựa vào những nghiên cứu thật công phu, tỉ mỉ mới có thể tìm được nguyên nhân. Thuốc chống dị ứng chỉ giải quyết được triệu chứng tạm thời. Muốn điều trị hiệu quả thì cái chính là phải tìm cho ra nguyên nhân, đôi khi không mấy dễ dàng.

Các dạng mề đay

Mề đay thông thường: bệnh bắt đầu đột ngột, rầm rộ ở bất kỳ vùng da nào trên cơ thể với những sẩn phù có màu hồng, đặc biệt rất ngứa và có thể hợp lại thành mảng có giới hạn rõ lan rộng khắp người. Sau vài phút hay vài giờ thì lặn mất, không để lại dấu vết. Phát ban có thể lặn ở chỗ này và nổi ở chỗ khác.

Phù mạch (còn gọi là phù Quincke): nổi ban đột ngột làm sưng to cả một vùng (mí mắt, môi, bộ phận sinh dục ngoài, niêm mạc...), cho cảm giác căng nhiều hơn ngứa, có thể kèm theo nổi mề đay. Nếu phù ở lưỡi, thanh quản, hầu sẽ gây suy hô hấp, phải xử trí cấp cứu.

Da vẽ nổi: còn gọi là mề đay giả. Nếu dùng một vật đầu tù xát nhẹ lên da, vài phút sau, trên mặt da sẽ nổi gồ lên một vệt màu hồng. Có thể đi kèm nổi mề đay.

Ngoài ra mề đay còn có những dạng khác như: sẩn nhỏ, sẩn - mụn nước hay xuất huyết.

Mề đay hay phù Quincke có thể đi kèm với những triệu chứng toàn thân như: sốt, đau khớp, rối loạn tiêu hóa, nhức đầu và nặng nhất là trụy tim mạch (sốc phản vệ) cần phải xử trí cấp cứu.

Điều trị bệnh mề đay

- Tốt nhất là loại bỏ yếu tố gây bệnh nếu biết.

- Tránh một số thức ăn, một số thuốc có thể gây dị ứng. Tránh các chất kích thích như: gia vị, rượu, trà, cà phê...

Trong cơn cấp:

- Ăn nhẹ, giảm muối.

- Trường hợp gây ngứa, khó chịu nhiều, có thể dùng giấm thanh pha trong nước ấm (1 phần giấm 2 phần nước) để thoa hay tắm.

- Tránh dùng thuốc mỡ kháng histamin (phenergan) thoa vì dễ gây viêm da dị ứng. Mỡ corticoides ít hiệu quả, có thể gây một số tác dụng phụ (nhất là khi thoa trên diện tích quá lớn).

Thuốc corticoides (uống hay tiêm) chỉ nên dùng trong điều trị mề đay cấp, nặng, kèm phù thanh quản. Một số trường hợp nổi mề đay do viêm mạch, mề đay do chèn ép không đáp ứng với các thuốc kháng histamin thông thường, không nên dùng để điều trị mề đay mạn tính tự phát.

Đối với mề đay mãn tính: vì thường có liên quan tới các bệnh lý bên trong nên bệnh nhân cần đến bác sĩ chuyên khoa khám, làm thêm các xét nghiệm cần thiết để tìm đúng nguyên nhân và có cách điều trị thích hợp.

BS. TRẦN LAN ANH

Trị viêm phế quản có khó không?

Tôi có con nhỏ, cứ mùa đông - xuân là cháu hay bị viêm phế quản. Xin cho biết chữa trị có khó không?

Mai Văn Hà (Nam Định)

Muốn biết con bạn có bị viêm phế quản hay không, bạn cần đưa bé đi khám bác sĩ chuyên khoa hô hấp. Tuy nhiên, việc điều trị viêm phế quản xoay quanh hai vấn đề: liệu pháp kháng sinh và điều trị triệu chứng. Nhưng có tới hơn 90% viêm phế quản là do virut, do đó không nên sử dụng liệu pháp kháng sinh. Kháng sinh chỉ được sử dụng khi viêm tiểu phế quản do vi khuẩn, bội nhiễm với tình trạng sức khỏe xấu, sốt kéo dài, nghi ngờ ho gà... Do đó, vấn đề đặt ra là nên điều trị triệu chứng và chăm sóc bé như thế nào để mau hồi phục sức khỏe.

Biện pháp hạ sốt: Có hai loại thuốc hạ sốt quan trọng là paracetamol và ibuprofen. Cho trẻ dùng thuốc hạ sốt khi sốt cao (trên 38,5 độ). Với những trẻ có bệnh lý tim, phổi, thần kinh... cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng thuốc hạ sốt. Lưu ý rằng hoạt chất này có rất nhiều trong các sản phẩm thuốc giảm đau hạ sốt, cảm cúm... do đó cần đọc kỹ trước khi cho trẻ uống thuốc nhằm tránh quá liều. Biện pháp lau mát hạ sốt không nên sử dụng thường xuyên. Bạn cũng không nên sử dụng miếng dán hạ sốt vì gần như không mang lại hiệu quả. Nếu con bạn chỉ bị sốt ở mức độ vừa phải (bé không tỏ ra mệt mỏi, quấy khóc) thì không nên sử dụng thuốc hạ sốt, bởi phản ứng sốt sẽ giúp bệnh nhanh khỏi hơn là cố tình hạ sốt bằng mọi giá.

Trị viêm phế quản có khó không?Cần đưa trẻ đi khám bệnh để có chỉ định dùng thuốc trị viêm phế quản. Ảnh: TM

Biện pháp giảm ho: Nếu bé dưới 2 tuổi thì không dùng thuốc giảm ho, bởi ho là một phản xạ có lợi để tống đờm, vi khuẩn ra ngoài và giúp bệnh mau khỏi hơn. Khi trẻ ho nhiều dẫn đến nôn ói, mất ngủ... bạn có thể áp dụng một số cách an toàn như massage gan bàn chân; uống mật ong pha loãng với nước ấm, giữ ấm cho trẻ. Thường trẻ chỉ ho nhiều trong tuần đầu tiên sau đó sẽ giảm dần và tự khỏi.

Biện pháp trị sổ mũi, nghẹt mũi: Không dùng các thuốc kháng histamin và các thuốc chống sung huyết mũi để làm thông khô mũi trẻ vì nguy cơ tác dụng phụ cao, đặc biệt với trẻ dưới 2 tuổi. Nên vệ sinh mũi bằng nước muối sinh lý. Không cần khí dung nước muối hoặc thuốc giãn phế quản nếu trẻ không có khò khè, hoặc khò khè nhưng không đáp ứng với thuốc giãn phế quản.

Thuốc làm loãng đờm: Trên thị trường có rất nhiều loại thuốc có tác dụng làm loãng đờm, giảm độ dính của đờm như acetylcystein, bromhexin, carbocystein... Tuy nhiên, hiệu quả của những thuốc này ở trẻ em khá hạn chế. Thuốc chỉ phát huy tác dụng khi trẻ được uống đủ nước. Nước có tác dụng làm loãng đờm rất tốt, vì vậy khuyến khích trẻ uống nhiều nước là biện một pháp điều trị hỗ trợ quan trọng.

Khí dung thuốc giãn phế quản: Khi trẻ có hiện tượng khò khè do co thắt phế quản có thể cho trẻ thuốc giãn phế quản dùng qua khí dung, tuy nhiên chỉ khí dung nếu tình trạng khò khè có cải thiện phần nào sau phun, do vậy cần thiết khí dung tại cơ sở y tế và bác sĩ sẽ đánh giá hiệu quả của thuốc. Không nên sử dụng các thuốc giãn phế quản đường uống vì hiệu quả thấp mà lại có tác dụng phụ như: run tay, hồi hộp, đánh trống ngực, đỏ mặt...

Thuốc kháng virut: Bác sĩ có thể cân nhắc cho bé sử dụng thuốc này nếu nghi ngờ tác nhân là virut cúm, thuốc kháng virut cúm nếu cho cần cho sớm trong 36 giờ đầu kể từ khi khởi phát triệu chứng.

BS. Trần Văn Công